Tôi tự học-Nguyễn Duy Cần-Tóm tắt

 

Tựa

“Mỗi người đều nhận được hai thứ giáo dục: một thứ do người khác truyền cho; một thứ, quan trọng hơn nhiều, do mình tự tạo lấy “.

Học là để cho đầu óc và tâm hồn càng ngày càng cao hơn, rộng hơn…có cao, có rộng thì mới tránh được cái nạn “thiên kiến”, “chấp nhất” của những đầu óc hẹp hòi. ”

Người có văn hóa cao là người mà tâm hồn thật cao rộng, dung nạp được tất cả mọi ý kiến dị đồng, không có những thành kiến hay tư tưởng một chiều, bao giờ cũng nhìn thấy tất cả mọi mặt trái của sự đời

Chương thứ một

  1. Thế nào là người học thức?

Lễ ký có nói: “ngọc bất trác, bất thành khí; nhân bất học, bất tri lí “. Có người dịch như vầy: “ngọc chẳng mài, chẳng ra chi. Người mà chẳng học, trí tri đâu tường …”

Học là để biết. Biết, mà không thực hành được, cũng chưa gọi là “biết “. Tri và hành cần phải hợp nhất mới được gọi là người “có học thức “.

  1. Học để làm gì?

Ta hãy can đảm nhìn ngay sự thật; có nhiều kẻ họ sống hết sức hạnh phúc trong sự ngu dốt và ở không của họ…họ ghét đọc sách, họ ghét suy nghĩ, họ ghét làm việc bằng tinh thần cũng như họ ghét gông cùm tù tội vậy: một vấn đề hoàn toàn thuộc về bản chất…

Theo tôi, hạnh phúc là được làm chủ hành động ta, tư tưởng ta, tình cảm ta…và mỗi ngày mỗi làm cho “cái người ” của ta thêm sáng suốt hơn, thêm tự do hơn, thêm to rộng hơn…nghĩa là thêm mới mẻ hơn. “cấu nhật tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân “. Mỗi ngày một mới, và ngày càng mới mãi…

Ăn mà không tiêu, thì có hại cho sức khoẻ. Học mà không tiêu hóa thì có hại cho tinh thần

Bởi vậy, người có học thức là người dường như không biết gì cả, mà không có cái gì là không biết.

  1. Thế nào là bậc thiên tài?

Theo họ “thiên tài chỉ là một sự nhẫn nại bền bỉ lâu ngày”

Những bậc vĩ nhân đều hiện lên một cách từ từ và lặng lẻ như thế. Họ nhẫn nại mà đi từng bước một; nhưng một bước của họ là một bước chắc chắn.

Tóm lại, thiên tài là một sự nhẫn nại bền bỉ và lâu dài. Muốn thành những bậc tài hoa, điều thứ nhất là phải có lí tưởng, có đủ tin tưởng và chí kiên nhẫn để thực hiện lí tưởng ấy; điều thứ hai là làm việc cho có trật tự, có phương pháp, nhẫn nại và lặng lẽ, không bồn chồn, không vội vã.

 

Chương thứ hai

A.học vấn và thời gian

  1. Cái học về bề rộng và cái học về bề sâu

Thật vậy, mọi sự mọi vật trên đời liên quan rất mật thiết với nhau. Có biết được nguyên nhân mới hiểu rành lí sự.

Người trí sở dĩ khác được kẻ ngu chỉ ở điểm này: một đàng đã tìm thấy được nhiều nguyên nhân sâu xa và rộng rãi, còn một đàng thì không nhận thấy một nguyên nhân nào khác hơn là sự việc đã xảy ra mà thôi. Vì vậy mà người trí thức cần phải có một cái học rộng rãi để khỏi phải bị thiên kiến trong khi nhận xét và phê bình.
Nhưng cần nhất là phải có một cái học chuyên môn, một cái học về bề sâu

Rồi ra, cái học tổng quát có cái hại này, là cái gì cũng biết, nhưng không có cái gì chuyên môn thực hiện được cả cho sự tiến bộ chung của nhân loại. Tuy vậy, nó có những cái lợi to tát này là nó đào tạo cho ta có được một cái nhìn bao quát, không thiên kiến, trí óc và tâm hồn rộng rãi, hiểu được người chung quanh, không có tinh thần quá khích

Trái lại, những kẻ chỉ biết cái hay của vọng cổ mà không thưởng thức cái đẹp của một bản nhạc beethoven, biết cái hay của một tuồng hát bóng âu mỹ mà không thưởng thức nổi cái đẹp của một tuồng “hát bội” á đông…thì dĩ nhiên nguồn cảm hứng mĩ thuật phải kém nhiều, vì bị hạn định.

Cái học chuyên môn thì có cái lợi nhiều cho xã hội, khiến cho công việc làm ngày càng trở nên tinh tiến, mau lẹ, nhưng nó có cái hại là thường hay biến con người thành bộ óc hẹp hòi, vì nghề nghiệp

  1. Cố gắng: điều kiện đầu tiên của sự tiến bộ tinh thần

Đọc sách có nhiều sách. Nếu đọc sách chỉ để giết thời giờ, tìm vui thích hoặc để tìm quên lãng trong những lúc buồn chán ở trên toa xe hay đọc sách để tìm giấc ngủ – thì đọc sách không lợi gì cho tinh thần cả. Đọc sách mà có lợi cho tinh thần là khi nào mình biết vận dụng tất cả năng lực và năng khiếu của mình, nhận thức được rõ ràng những ý kiến sâu thẳm của lòng mình đem ra so sánh với những ý kiến dị đồng của tác giả, biết sắp đạt lại những kí ức của mình, biết trầm ngâm suy nghĩ, biết làm việc có phương pháp, tóm lại, biết thảo luận và thông cảm với tác giả quyển sách mình đọc, đó là cách đọc sách đấy.
Du lịch cũng là một nguồn học hỏi, nhưng biết du lịch chỉ là thụ động, mà không biết quan sát, biết suy nghĩ thì dù có lê chân suốt đời khắp năm châu thế giới cũng chẳng ích gì. Sở dĩ du lịch đã giúp ích cho sự “đa văn quảng kiến” cho nhiều bậc văn hào trên thế giới như bằng chứng nơi những tập du kí của những đại văn hào h. De keyserling, aldous huxley, r.rolland, a. Gide…là vì những nhân vật ấy đã khéo biết quan sát, không phải cái bề ngoài của sự vật và con người mà là vì họ đã biết nhìn xem cái động cơ vô hình đã nhào nặn những sự kiện hữu hình dưới mắt họ kia

  1. Cố gắng mà được bền bỉ là nhờ có sự hứng thú làm hậu thuẫn

Đ. Biết tổ chức sự hiểu biết của mình

Người học thức không chỉ là người học nhiều mà thôi, mà là người đã “tiêu hóa” được cái học của mình, vì đã biết tổ chức những tài liệu mà mình đã thu thập thành một cái biết có cơ sở vững vàng và rộng rãi.

Người có một trình độ văn hóa cao là người có một đầu óc rộng rãi, một tâm hồn khoáng đạt, không bao giờ chịu giam mình trong một học thuyết hay một chủ nghĩa nào.

Tóm lại, nhờ họ có rất nhiều “thầy” nên họ không lệ thuộc một ai cả. Họ nhờ đó mà biết quan sát một cách không thiên kiến, biết nhìn lạic các vấn đề quan trọng bằng những nhãn quan khác nhau, biết kiểm lại tư tưởng và những thành kiến của mình với cặp mắt luôn luôn mới mẻ. Họ không bao giờ có những định kiến không thay đổi nghĩa là họ có óc “hoài nghi triết lí” thỉnh thoảng biết đặt lại những vấn đề mà họ thiết tha tin tưởng nhất

  1. Óc phê bình
  2. “Biết mình” là cái học đầu tiên của người tri thứ
  3. Học để thành công trong con đường xử thế
  4. Óc tinh nhuệ
  5. Biết tuyển chọn

Tuyển chọn phải là công việc đầu tiên của người ham học. Chẳng những phải biết chọn riêng cho mình những sách mà mình thích nhất, lại cũng phải biết chọn trong một quyển sách những chương nào hay nhất để ta thỉnh thoảng đọc đi đọc lại.

Tóm lại, ta cần phải tuyển chọn những sách hay nhất trong những sách hay, những trang hay nhất trong những sách hay nhất

Chương thứ ba

  1. Tinh thần tản mác.

Biết từ chối, đó là một sức mạnh của tâm hồn. Đừng sợ làm phật lòng kẻ khác bằng sự từ chối khéo léo: mình đã chẳng những làm lợi cho mình mà cũng không làm bận cho người.

  1. Đời sống đơn giản.

Đời sống đơn giản, tức là cái nếp sống tổ chức theo một quan niệm biết nhìn thấy cái gì là chánh, cái gì là phụ trong đời, biết quý cái cần thiết mà bỏ qua những cái không cần thiết…

Chương thứ ba (tt)

  1. Sự tập trung tinh thần.

“Điều khó khăn nhất trong khi nghiên cứu là tìm cho ra cái điểm đặc biệt và chủ yếu, do đó tất cả đều có thể quy về một mối…” ông lại bày giải phép làm văn của mình: “trong khi viết lại một tác phẩm nào, tôi luôn luôn làm một cái bản mục lục phân tích từng vấn đề. Tôi làm bản ấy, không phải lúc mới khởi thảo, hoặc sau khi viết xong bản thảo, mà là lần lần sau khi viết xong mỗi đoạn. Tôi tóm lại mỗi đoạn bằng một câu hết sức gọn gẫy và rõ ràng. Đâu phải dễ dàng gì tìm ra được liền câu đại lược ấy, nhưng hễ đã một khi tìm ra được nó rồi thì câu ấy chỉ cho ta thấy trong đoạn văn nầy có những gì dư, những gì thiếu, những gì không ăn chịu nhau, hoặc không đầu đuôi, bởi thảy đều phải quy về câu tóm tắt ấy. Hơn nữa, câu tóm tắt nầy cùng những câu tóm tắt khác của các đoạn sau, gộp chung lại, giúp ta thấy cái yếu điểm của toàn chương”.
Đây chẳng những là phương pháp làm văn mà cũng là phương pháp đọc văn và rộng hơn nữa, nó là tất cả phương pháp học hỏi bất cứ môn học nào.
Muốn có được luôn luôn một đầu óc sáng suốt mà cũng là phương pháp đọc văn và rộng hơn nữa, nó là tất cả phương pháp học hỏi bất cứ môn học nào.
Nếu ta thi hành nguyên tắc “nhất dĩ quán chi” nầy một cách trung thành trong mỗi khi đọc sách hay làm văn, lâu ngày ta sẽ tạo cho ta một thói quen rất tốt là bất kỳ đứng trước một việc gì phiền phức bực nào cũng không bao giờ để tinh thần mình bị lôi cuốn vào những chi tiết chi ly vụn vặt, không phân biệt được cái gì là chánh cái gì phụ…người xưa thường dặn: “tri kỷ lý giá, nhứt ngôn nhi chung, bất tri kỳ lý giả, lưu tán vô cùng”.

  1. Óc tổng quan.

F.óc nhân quả.

  1. Óc tế nhị.

“Những đầu óc tinh nhuệ mới nhận thấy được sự khác nhau trong sự vật, những đầu óc tầm thường chỉ thấy toàn là những sự giống nhau thôi”.

Hễ thấy những vật giống nhau, cần phải tìm những chỗ dị đồng của nó. Không bao lâu ta sẽ thấy sự nhận xét của ta càng ngày càng tinh mật một cách hết sức mau lẹ. Bấy giờ ta sẽ có được cái biệt tài rất quý báu này là thấy được nhiều khía cạnh mà thôi.
Đứng về mặt thực tế, thì óc nhận xét nầy có rất nhiều lợi ích. Nó giúp ta thấy được được sự thực giả một cách rất dễ dàng trong các sự vật.
Hãy tập phân biệt sự thực giả của hột xoàn, của hột trai, của giấy bạc…là những điều rất cần thiết trong đời sống hàng ngày. Tập cho mình có được một đầu óc tế nhị là mình đã có một cơ sở khá cứng cát để đi vào con đường tự học.

  1. Óc thán thưởng

“Tất cả mọi người đều ao ước được có nhiều hiểu biết. Nhưng muốn hiểu biết, điều kiện đầu tiên là phải biết nhìn đời với cặp mắt của đứa trẻ thơ: cái gì cũng mới là và làm cho ta ngạc nhiên được cả.”
Phải biết xem xét chung quanh ta với cặp mắt của người xứ lạ. Ta sẽ thấy đời ta đổi khác với nhiều tư tưởng bất ngờ mà xưa nay ta chưa từng nghĩ đến.

Chỉ có những người tự đắc và nông nổi mới dám quả quyết: “đời đục cả, một mình ta trong. Đời say cả, một mình ta tỉnh”. Tự mãn trong sự hiểu biết của mình và tin tưởng rằng không còn có gì phải suy xét lại nữa là tự huỷ hoại con đường tiến thủ tinh thần ta rồi.
Những người còn trẻ tuổi nên lân la những bậc trưởng thượng, những kẻ đã từng trải cuộc đời để nghe họ nói chuyện. Họ là những người không còn dục vọng sôi nổi của tuổi trẻ, đã có nhiều kinh nghiệm và cuộc đời sẽ có nhiều bình tĩnh hơn. Tóm lại, kẻ lớn tuổi cũng cần gần gũi thanh niên để khỏi bị tê liệt tinh thần; còn thanh thiếu niên cũng nên gần gũi với người già; họ không còn quyền lợi gì để lừa dối ta nữa

Chương thứ tư

  1. Đọc sách
  1. Thế nào là sách hay?

“Đọc sách là một cách lười biếng nguy hiểm nhất, bởi kẻ làm biếng mà ở không nhưng, họ sẽ cảm thấy như khó chịu với lương tâm. Trái lại, nếu họ có đọc sách, họ tin rằng họ có làm việc và nhân thế, cái bịnh lười biếng của họ không còn thế nào trị đặng nữa”.

  1. Đọc sách để tìm hiểu mình.
  1. Phải đọc sách cách nào
  1. Tánh cách tôn nghiêm của sự đọc sách:
  2. Chỉ đọc những tác phẩm hay:
  3. Sách gối đầu giường
  4. Uống nước tận nguồn.
  5. Sách quá nhiều chú giải:
  6. Đọc sách cần phải đọc đi đọc lại nhiều lần:
  7. Cần đọc những sách cao hơn tầm hiểu biết của mình:
  8. Đối với bất cứ sách nào, phải dành cho nó một tấm lòng thiện cảm.
  9. Cần ôn lại những gì ta đã hiểu biết hoặc đã suy nghĩ về vấn đề của quyển sách đã nêu ra:

Không phải riêng gì việc đọc sách, đi nghe diễn thuyết cũng vây, cần phải ôn lại những gì mà ta đã hiểu biết hoặc đã suy nghĩ về đề tài sắp đem ra trình bày…để mình có thể theo dõi cuộc nói chuyện một cách hào hứng…

  1. Đọc sách cần phải đồng hoá với nó và phản động lại nó:

Đọc sách mà tin cả sách, cũng như đọc sách mà bất cứ câu nào cũng phản đối…đó là hai thái độ không nên có của một người đứng đắn.

  1. Đọc sách cần đặt cho mình trước một vấn đề … hay một câu hỏi để tìm kiếm, săn đuổi…
  2. Làm thế nào để nghiên cứu một hệ thống tư tưởng?
  3. Làm cách nào để hiểu biết được học thuyết mới?
  4. Cái hại của những sách toát yếu.
  5. Viết lại những gì mình đã đọc.
  6. Đọc sách cần xem bản mục lục.

Chương thứ năm

  1. Đọc tiểu thuyết tâm lý
  2. Đọc sử
  3. Phê bình ngoại bộ
  4. Phê bình nội bộ

Chương thứ sáu

  1. Học viết văn :
  2. Học dịch văn

Chương thứ bảy

  1. Óc khoa học :

Tìm biết bằng cách nào và bởi những nguyên nhân nào các nhà bác học đã phát minh sáng tạo được, tức là biết được lề lối làm việc trong công trình suy tầm chân lí nghĩa là hiểu được những phương pháp thực nghiệm cảu những bậc vĩ nhân trong giới khoa học.

  1. Óc triết học
  2. Biết xúc cảm :

Là vì họ thiếu “ngọn lửa” lòng, họ là những tâm hồn thiếu hăn hái, thiếu say mê vì ít thắc mắc và rất dễ dãi đối với bất kì việc gì…

Chương thứ tám

  1. Nguyên tắc thứ nhất là đi từ cái dễ đến cái khó, và phải tin ở sự thành công.
  2. Nguyên tắt thứ hai để làm việc có hiệu quả là phải làm việc đều đều, không nên để gián đoạn.

Cứ ngày nào cũng học mười lăm phút đồng hồ thôi, nhưng ngày nào như ngày nấy, không bao giờ sai chạy. Đó là một thói quen rất tốt cho những ai muốn làm nên việc lớn và đó cũng là một phương pháp để luyện tập ý chí.
III. Nguyên tắc thứ ba là bất cứ học môn nào phải khởi đầu bằng những yếu tố đầu tiên của môn học ấy.

  1. Nguyên tắc thứ tư : biết lựa chọn

Biết lựa chọn, là biết lựa chọn những công việc nào hợp với khả năng của mình. Và một khi đã lựa chọn xong thì hãy can đảm thực hiện cho kì được môn mình đã lựa chọn.

  1. Nguyên tắc thứ năm là phải biết quí thời giờ làm việc của ta và đặt cho nó thành một kỉ luật.

Kẻ nào ham mê làm việc phải biết từ khước tất cả mọi việc nhảm, làm phí thời giờ quí báu của mình, như những cuộc hội họp, trò chuyện, tán hão và không đâu

VI.nguyên tắc thứ sáu là biết dùng thời giờ làm việc và tiết kiệm từng phút một.

VII.nguyên tắc thứ bảy là hễ làm việc gì thì hãy làm cho hoàn tất, đừng phải trở lại một lần thứ hai. Đó là một thói quen rất tốt cho tất cả mọi công việc.

VIII.nguyên tắc thứ tám là muốn làm việc cho nó hiệu quả phải có một sức khỏe dồi dào.

“một thân thể không đau, một tinh thần không loạn, đó là chân hạnh phúc của con người”.